BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Chủ Nhật, 03/07/2022
Châu lục, quốc gia
Chính phủ kiến tạo trong hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp cận từ FTA Việt Nam - EU* (phần 4)
Thứ Tư, 20/05/2020 10:54

Như Nghị quyết Đại hội 12 Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định “Hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng, nhất là hội nhập kinh tế. Việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do đã có và tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, cùng với việc hình thành Cộng đồng ASEAN trong năm 2015 mở ra nhiều cơ hội thuận lợi cho phát triển nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn thách thức”

Một số kiến nghị cụ thể:

 

- Có các chương trình tổng thể để phát triền du lịch, từ hạ tầng, nguồn nhân lực, tới bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, tới gìn giữ truyền thống văn hóa, tâm linh, gắn kết du lịch với phát triển bền vững về môi trường và xã hội.

 

- Chính phủ cần đẩy mạnh hơn nữa các giải pháp cụ thể để phát triển ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn như quảng bá hình ảnh, nâng cao năng lực cho đội ngũ du lịch, phát huy bảo tồn các di sản, phát triển du lịch biển, du lịch văn hóa…

 

- Thúc đẩy hội nhập khu vực và quốc tế trong du lịch, khuyến khích hợp tác với các nước thành viên EU, với ưu thế là nước triển khai FTA sớm hơn với EU, Việt Nam sẽ tạo ra được những lợi thế lớn hơn so với các quốc gia trong khu vực trong việc thu hút khách du lịch từ châu Âu.

 

- Chú trọng phát triển các ngành nông nghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường, gìn giữ bản sắc văn hóa và truyền thống làng nghề, gắn với các loại hình du lịch nhằm thay đổi dần các ngành công nghiệp hoàng hôn cũng như khai thác tài nguyên khoáng sản.

 

Thứ tư, Chính phủ đẩy nhanh việc hoàn thiện cơ chế quản lý và giám sát các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền SHTT mà Việt nam đã cam kết trong hiệp định.

 

Đối với lĩnh vực hàng hóa công nghiệp, nông nghiệp và thủy sản.

 

Cần chủ động tích cực tận dụng những cơ hội mà Hiệp định mang lại là sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Viêt Nam như  giày dép, thủy sản, đồ gỗ… sang thị trường EU và ngược lại, các hàng hóa thiết bị máy móc, hóa chất, dược phẩm của EU cũng có cơ hội xuất khẩu vào thị trường Việt Nam.

 

Để hàng hóa nông nghiệp của Việt Nam có khả năng cạnh tranh được với các nước khác tại thị trường EU, cũng như đứng vững trước áp lực cạnh tranh về giá, về chất lượng của các mặt hàng nông sản từ EU tại thị trường trong nước thì các nhóm giải pháp phát triển chuỗi giá trị nông sản cần phải được thực thi và áp dụng, trong đó chính sách về việc cung ứng giống,  kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản, chế biến sau thu hoạch cần phải được thiết lập ngay.

 

Trong  giai đoạn sắp tới được xem là thời kỳ chuyển đổi mà chúng ta có thể thực thi cơ chế thuế để bảo hộ các sản phẩm nông nghiệp trong nước, Chính phủ cần có các chương trình đào tạo, phổ biến kỹ năng sản xuất nông nghiệp cho người dân, thực hiện các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho cả người dân và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trong vấn đề sử dụng và áp dụng các quy chuẩn về chăn giết mổ động vật.

 

Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ và đầu tư

 

Đây được xem là lĩnh vực tương đối phức tạp đối với các cơ quan quản lý khi phải giám sát cũng như thực thi các nhóm giải pháp cho những loại hình cụ thể như: (1) Cung cấp qua biên giới,  (2). Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó), (3). Hiện diện thương mại (người cung cấp dịch vụ mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác, lập ra một pháp nhân và cung cấp dịch vụ ở nước đó) và (4). Hiện diện thể nhân: người cung cấp dịch vụ là thể nhân mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác và cung cấp dịch vụ ở nước đó.

 

Trong khi đó, đây được xem là lĩnh vực trọng yếu của kinh tế EU khi mà lĩnh vực này chiếm đến ¾ trong cơ cấu GDP, là nhân tố quyết định sự tăng trưởng về kinh tế cũng như khả năng cạnh tranh trên toàn cầu toàn của . Với thế mạnh và tính chuyên nghiệp trong các dịch vụ như kế toán, kiểm toán, truyền  thông và vận tải, EU đã và đang chiếm lĩnh hầu hết các thị trường trong và ngoài khu vực thông qua các hiệp định thương mại FTA. Để quản lý và thúc đẩy các hoạt động dịch vụ khi FTA giữa hai bên có hiệu lực, Chính phủ  nên  thực thi các nhóm giải pháp sau:

 

- Nhanh chóng hoàn thiện biểu thuế quan chung về dịch vụ cho 150 phân ngành đang được thực thi tại Việt Nam theo các cam kết về tự do hóa thương mại dịch vụ EVFTA.

 

- Thực thi minh bạch hóa chính sách tự do hóa thương mại trong lĩnh vực dịch vụ theo các yêu cầu của GATS.

 

 - Nâng cao năng lực cho các Bộ ngành, cơ quan chính phủ, phụ trách về các lĩnh vực dịch vụ. Thiết lập các cơ chế chính sách điều phối từ  đó thúc đẩy,  sự gắn kết giữa các ngành dịch vụ với nhau.

 

- Thực thi xóa bỏ vị trí độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước, thực thi đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài.

 

- Xóa bỏ các loại hình trợ cấp của chính phủ đối với các doanh nghiệp nhà nước theo các cam kết của WTO và cam kết trong FTA, đặc biệt là trợ cấp chéo trong một số ngành dịch vụ viễn thông, vận tải, ngân hàng…

 

- Thúc đẩy nhóm giải pháp tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng, giải quyết vấn đề nợ xấu, nâng cao khả năng cạnh tranh ứng phó trước làn sóng thôn tính của các ngân hàng châu Âu nói riêng các tác động của các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nói chung.

 

Về  sở hữu trí tuệ

 

Đây là lĩnh vực mà EU hết sức quan tâm trong đàm phán và triển khai FTA với Việt Nam và các đối tác. Mặc dù, Việt Nam hiện đang là thành viên của Hiệp định TRIPS việc thực thi kém hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian qua tại Việt Nam được xem là nguyên nhân khiến cho các công ty nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp châu Âu không chuyển nhượng hoặc chuyển giao các quyền tài sản hoặc các bí quyết về công nghệ tiên tiến.

 

Một số giải pháp Chính phủ và các bộ ngành cần triển khai nhằm tăng cường hiệu lực của luật bảo hộ quyền SHTT như sau:

 

- Chính phủ giao cho các đơn vị liên quan ra soát và đánh giá tính khả thi của các văn bản luật, nghị định, các thông tư hướng dẫn triển khai đăng ký, bảo hộ sản phẩm, đăng ký nhãn hiệu…

 

- Nâng cao năng lực cho cán bộ thẩm định của Cục SHTT để đảm bảo quá trình thẩm định và đánh giá các trường hợp vi phạm được nhanh chóng và chính xác. Hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của tòa án đối với các trường hợp vi phạm quyền SHTT trong thời gian qua vẫn chưa thực sự có hiệu quả, chính vì vậy, giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ thẩm phán cần phải được triển khai.

 

- Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ hải quan tại khu vực biên giới, thiết lập hệ thống truy xuất thông tin về các nhãn hiệu, bằng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp…để có thể nhanh chóng giải quyết, bắt giữ các hàng hóa nhập khẩu vi phạm quyền SHTT.

 

- Xây dựng cơ chế phối hợp  giữa cơ quan thực thi quyền SHTT và cơ quan quản lý,  giữa các Ban ngành trung ương với các cơ quan địa phương, giữa tòa án với Hải quan, Quản lý thị trường, công an kinh tế và thanh tra Bộ KHCN.

 

Về  TBT, SPS, phòng vệ thương mại

 

Việc triển khai thực thi giữa hai bên về các điều khoản về TBT, SPS, phòng vệ thương mại…. sẽ vẫn được coi là những rào cản mà hàng hóa xuất khẩu Việt Nam hay nhập khẩu từ EU phải đối mặt.

 

Từ nghiên cứu kinh nghiệm các FTA mà EU ký kết gần đây có thể thấy vấn đề liên quan đến TBT chỉ chủ yếu gồm những nội dung liên quan đến thủ tục (theo hướng tăng cường các thủ tục ràng buộc các chính phủ khi ban hành hay thực thi những quy định TBT, SPS, phòng vệ thương mại) chứ không quy định cụ thể về các tiêu chuẩn/yêu cầu xác định cho từng loại hàng hóa, do vậy:

 

- Chính phủ cần thiết lập Ủy ban phụ trách và giải quyết các vấn đề liên quan đến hàng rào thương mại TBT, là cầu nối giữa doanh nghiệp trong nước với các cơ quan hữu quan châu Âu trong vấn đề điều tra, áp dụng các điều khoản áp dụng các hàng rào kỹ thuật (TBT), vệ sinh dịch tễ (SPS), phòng vệ thương mại (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ) trong triển khai FTA với EU[7].

 

- Hiện đại hóa thủ tục hải quan, minh bạch, áp dụng công nghệ thông tin, các thủ tục liên quan tới chứng nhận xuất sứ, chỉ dẫn địa lý, SPS, cần có hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

 

Thứ năm, Chính phủ cần phải tập trung nguồn lực, cơ chế chính sách nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ

 

Phân tích và đánh giá cũng dự đoán về triển vọng trong quan hệ hợp tác thương mại EU- Việt Nam trong thời gian tới khi hiệp định FTA có hiệu lực, chúng tôi nhận thấy các mặt hàng chủ lực của Việt Nam là điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy sẽ tiếp tục chi phối đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn nhận về nội tại các ngành công nghiệp chủ chốt trên có thể dễ dàng nhận thấy hầu như các ngành này đều chưa có công nghiệp hỗ trợ đi kèm. Để tạo nên sản phẩm, các doanh nghiệp đều phải nhập nguyên vật liệu từ các quốc gia khác trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore… Mặc dù EU đã đơn giản hóa các qui định về xuất xứ sản phẩm trong hiệp định FTA với Việt Nam, chấp nhận các nguyên vật liệu nhập khẩu từ các quốc gia khác trong khu vực cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, song sự bị động về nguyên vật liệu nhập khẩu, khả năng quản lý về chất lượng nguyên phụ liệu còn hạn chế dẫn đến chất lượng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam không cao, sản xuất còn manh mún, chi phí sản xuất cao.

 

Mặt khác, việc thiếu hụt ngành công nghiệp phụ trợ, sự yếu kém của các doanh nghiệp nội trong việc gia công sản xuất các linh kiện, thiết bị máy móc, sự thiếu chuyên nghiệp trong quản lý… được xem là những trở ngại đối với hầu hết các doanh nghiệp FDI khi triển khai đâu tư sản xuất tại Việt Nam. Hơn nữa đây cũng là lĩnh vực mà chúng ta phụ thuộc nặng nề vào Trung Quốc, làm thâm hụt cán cân thương mại cũng như nhiều tác động tiêu cực khác tới an ninh chủ quyền quốc gia.

 

Để có thể phát triển được ngành công nghiệp phụ trợ trong nước, Chính phủ cần tập trung:

- Thiết lập chiến lược dài hạn để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, trong đó tập trung giải  quyết bốn yếu tố quan trọng là nguồn nhân lực, công nghệ, tài chính và hệ thống phân phối.

- Xây dựng và hoàn thiện các chính sách quy định về kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành nghề, quy định về hải quan, về chính sách thuế...

- Cần xây dựng Luật phát triển công nghiệp cơ khí, công nghiệp điện tử… để đưa ra các biện pháp tổng hợp, có hệ thống và quy trình cụ thể như phát triển kỹ thuật, đào tạo nhân lực, hỗ trợ tài chính, bảo đảm vị trí, khai thác thị trường…

- Chính phủ cần có các ưu đãi về tài chính, về đất đai hạ tầng, về đầu tư, về nguồn nhân lực, các chính sách khuyến khích thành lập các DN sản xuất công ngiệp hỗ trợ,  xây dựng các quỹ đặc thù riêng cho công nghiệp hỗ trợ, hình thành tổ chức đầu mối để thực hiện sự quản lý Nhà nước dẫn dắt liên kết các DN làm công nghiệp hỗ trợ, phân xử các tranh chấp hợp đồng cung ứng, xây dựng ban hành cơ sở dữ liệu đầy đủ về công nghiệp hỗ trợ...

- Nhân lực là vấn đề sống còn cho phát triển bất cứ một ngành nào, vì vậy để phát triển công nghiệp phụ trợ, cần phải xây dựng được một đội ngũ kỹ sư chuyên sâu, có trình độ cao, có khả năng nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất nguyên phụ liệu, đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, tay nghề cao để đưa công nghiệp phụ trợ phát triển.

- Về vốn, có thể sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi để xây dựng một quỹ tài chính đảm bảo cho việc phát triển công nghiệp phụ trợ của những ngành đã được chỉ định. Việc chỉ định các ngành cần phát triển là việc chỉ rõ các phạm vi ưu tiên để có nguồn ngân sách cụ thể, minh bạch. Minh bạch được khâu này cũng sẽ giúp các DN thu hút đầu tư. Hỗ trợ phát triển công nghiệp phụ trợ các ngành bằng các đòn bẩy về tín dụng, thuế, hạ tầng, khuyên khích liên doanh, thu hút FDI nước ngoài.

- Việc tăng nhu cầu nội địa là một trong những việc quan trọng nhất nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp phụ trợ. Tuy nhiên, để đảm bảo có thể thu được lợi nhuận cao nhất cũng như xây dựng được một thị trường nội địa phát triển thì cần quan tâm đến hệ thống phân phối. Hệ thống phân phối có thể cung cấp đầy đủ, dễ dàng những nhu cầu về linh kiện cho những DN có nhu cầu sẽ góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp phụ trợ.

 

* Báo cáo này trình bày một số kết quả nghiên cứu liên quan tới đề tài cấp nhà nước  "Cục diện kinh tế thế giới hiện nay và tác động đến Việt Nam" mã số ĐTĐL-XH.17/15

 

** PGS. TS. Nguyễn An Hà, Viện Nghiên cứu châu Âu, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tr. 267.

[2] Cho đến nay EU mới kí kết FTA với các nước Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam ở châu Á

[3] Xem thêm Nguyễn An Hà, Điều chỉnh chính sách FTA của EU và đối sách của Việt Nam, NXB KHXH 2015.

[4] European Commission (2012), Europe 2020: Europe’s growth strategy.

http://ec.europa.eu/europe2020/pdf/europe_2020_explained.pdf

[5] Sách trắng “Các vấn đề thương mại/đầu tư và kiến nghị” 2014 của Eurocham Việt Nam

[6] Xem thêm các BCTQ của đề tài liên quan

[7] Kinh  nghiệm từ FTA Hàn Quốc EU

Nguyễn An Hà**

(Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu. Số 9, 2016. Nguyễn Thị Đậm sưu tầm)

Theo irsd.vass.gov.vn
Số lượt đọc: 2430
Thông báo