BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Chủ Nhật, 21/04/2024
Chính sách đầu tư vào
Thúc đẩy kết nối giữa kinh tế có vốn ĐTNN với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân
Thứ Bảy, 30/07/2022 02:58
Thúc đẩy kết nối giữa kinh tế có vốn ĐTNN với kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Sự kết nối, liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn ĐTNN với các khu vực kinh tế khác có vai trò đặc biệt quan trọng để tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các khu vực kinh tế khác cùng phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh chung của nền kinh tế

Từ khi đất nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới vào năm 1986 đến nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) có vai trò ngày càng quan trọng trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Bên cạnh những đóng góp trực tiếp, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN còn có tác động lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các khu vực kinh tế khác. Trong đó sự kết nối, liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn ĐTNN với các khu vực kinh tế khác có vai trò đặc biệt quan trọng để tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các khu vực kinh tế khác cùng phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh chung của nền kinh tế. Bài viết này tập trung làm rõ sự cần thiết và các giải pháp để thúc đẩy mối liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn ĐTNN với khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước nhằm phát huy tối đa nguồn lực của mọi thành phần kinh tế cho phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển khu vực kinh tế có vốn ĐTNN

Trong quá trình đổi mới, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển khu vực kinh tế có vốn ĐTNN, tạo điều kiện để thu hút nguồn lực bên ngoài cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 17/7/1984, Bộ Chính trị đã đề ra định hướng hợp tác kinh tế với nước ngoài. Tiếp đó, tháng 12/1986, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI đã xác định mục tiêu xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và mở cửa hợp tác ĐTNN; trong đó xác định  “phải có chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu. Đi đôi với việc công bố Luật Đầu tư nước ngoài, cần có chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh”. Đây là sự thay đổi lớn, mang tính bước ngoặt về nhận thức, quan điểm đối với ĐTNN, làm cơ sở để ban hành Luật ĐTNN năm 1987.

Trong 30 năm tiếp theo, Đảng ta đã kịp thời có các chỉ đạo, định hướng về ĐTNN tại các Nghị quyết Đại hội Đảng hoặc Hội nghị trung ương để có những điều chỉnh phương hướng, chính sách, pháp luật phù hợp với bối cảnh thế giới và đất nước trong từng thời kỳ. Quan điểm xuyên suốt của Đảng đối với ĐTNN là: (i) hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; (ii) tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài đầu tư, kinh doanh; (iii) thống nhất từng bước chính sách, tạo mặt bằng pháp lý chung đối với các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài; (iv) kinh tế có vốn ĐTNN là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển; (v) kinh tế có vốn ĐTNN bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; (vi) gắn thu hút ĐTNN với giám sát quá trình thực thi, bảo đảm an ninh kinh tế, hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường. 

Ngày 20/8/2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Đây là lần đầu tiên, Bộ Chính trị ban hành một nghị quyết chuyên đề về ĐTNN. Điều này cho thấy vai trò, vị trí, tầm quan trọng của nguồn lực bên ngoài đối với sự phát triển đất nước hiện nay và tính cấp bách của việc đề ra những chủ trương, chính sách mới để lãnh đạo, định hướng ĐTNN sau hơn 30 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài. Trong đó, một trong các giải pháp của Nghị quyết 50-NQ/TW là thúc đẩy liên kết giữa ĐTNN và đầu tư trong nước; phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí quốc gia. Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước kết nối với doanh nghiệp ĐTNN, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, dần tiến tới tự chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Vai trò, đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN và các khu vực kinh tế khác.

Thực tiễn cho thấy ĐTNN gắn với quá trình 30 năm Đổi mới và có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thúc đẩy ba chuyển đổi cơ bản của nền kinh tế, đó là: (i) từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, (ii) từ khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tập thể là chủ yếu sang kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế tư nhân và khu vực ĐTNN là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng và (iii) từ một nền kinh tế đóng cửa, bị bao vây, cấm vận sang mở cửa, hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới.

Qua hơn 30 năm, các kết quả đạt được đã khẳng định tính đúng đắn của chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với ĐTNN. Khu vực kinh tế này đã có những đóng góp ngày càng quan trọng cho các thành tựu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cụ thể là:

(i) ĐTNN là động lực quan trọng để Việt Nam từng bước phá bỏ thế bao vây cấm vận, hiện thực hoá chủ trương “là bạn với các nước” trong thời kỳ đầu Đổi mới;

(ii) ĐTNN đã thực hiện vai trò người công binh mở đường, thực hiện thí điểm các chính sách về kinh tế thị trường, làm cơ sở tổng kết, đánh giá để áp dụng rộng rãi[1] trong bối cảnh hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, kinh nghiệm quản lý nhà nước về kinh tế thị trường chưa có;

(iii) ĐTNN đã trở thành khu vực phát triển năng động, có đóng góp tích cực vào thành tựu tăng trưởng. Đóng góp khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm trên 20% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và từng bước đưa Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu;

(iv) Thực hiện chuyển giao công nghệ ở một số ngành, lĩnh vực và có tác động lan tỏa công nghệ nhất định tới khu vực doanh nghiệp trong nước như dầu khí, viễn thông, điện tử,...;

(v) Khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước để cùng hợp tác, cùng phát triển; tạo liên kết giữa khu vực ĐTNN với khu vực trong nước, thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ;

(vi) Đóng góp đáng kể trong tổng thu ngân sách nhà nước với tỷ trọng 25,8% tổng thu ngân sách nhà nước năm 2019 và trên 26% năm 2020.  

(vii) Tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển nguồn nhân lực và năng suất lao động của nền kinh tế. Khu vực ĐTNN đã tạo ra 4,51 triệu việc làm trực tiếp và khoảng 5 – 6 triệu lao động gián tiếp. Năng xuất lao động của khu vực ĐTNN cao gấp 2,7 lần năng suất chung của nền kinh tế.

(viii) Góp phần thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với hệ thống luật pháp ngày càng minh bạch, phù hợp thông lệ quốc tế, môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, khiến Việt Nam được đánh giá thuộc nhóm 12 quốc gia, vùng lãnh thổ là điểm đến đầu tư tiềm năng trong giai đoạn từ 2017 đến 2020[2];

(ix) Góp phần nâng cao vị thế đất nước, thúc đẩy quan hệ ngoại giao kinh tế của Việt Nam với các đối tác song phương và đa phương sâu sắc hơn;

(x) ĐTNN là sản phẩm của đổi mới tư duy kinh tế của Đảng, nhưng chính ĐTNN cũng là động lực góp phần để thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; là nhân tố mới, đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Khu vực kinh tế tư nhân (gồm các doanh nghiệp ngoài nhà nước và hộ kinh doanh cá thể) là nhóm có tỷ trọng cao nhất trong GDP, duy trì mức đóng góp trên 40% GDP[3] của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục huy động được nguồn lực ngày càng tăng cho đầu tư sản xuất kinh doanh; thu hút, tạo việc làm cho lực lượng lớn lao động trong nền kinh tế, chiếm khoảng gần 29% tổng số lao động. Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp đã tạo điều kiện để thúc đẩy quá trình sắp xếp, cải cách khu vực DNNN trong thời gian qua. Chủ trương cho phép tư nhân tham gia vào một số lĩnh vực cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích (chiếu sáng đô thị, cấp nước, thoát nước, vệ sinh môi trường, tư vấn,…), khu vực mà trước đây được mặc định là chỉ do các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ đã tạo điều kiện cho việc sắp xếp, đổi mới đối với các DNNN hoạt động trong các lĩnh vực này. Quá trình tái cơ cấu, đổi mới DNNN mà trọng tâm là cổ phần hoá đã tạo điều kiện cho khu vực tư nhân tham gia trở thành cổ đông, nhiều trường hợp trở thành cổ đông chi phối trong một số ngành, lĩnh vực mà DNNN cần nắm giữ như xây dựng dân dụng, xây dựng giao thông, v.v..

Bên cạnh khu vực kinh tế có vốn ĐTNN và kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế nhà nước vẫn tiếp tục là một thành phần quan trọng, góp phần bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đóng góp lớn trong xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà các thành phần kinh tế khác chưa có điều kiện làm được do đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn lại chậm, không có khả năng sinh lời trong ngắn hạn. Về cơ bản, hiệu quả kinh doanh của DNNN tuy không thấp hơn mức bình quân của khu vực doanh nghiệp, nhưng chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ.

Thực trạng liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn ĐTNN với các khu vực kinh tế trong nước. 

Khu vực kinh tế ĐTNN đã tạo tiền đề, đồng thời tạo tác động lan tỏa trực tiếp và gián tiếp đối với các khu vực kinh tế khác của Việt Nam. Các doanh nghiệp ĐTNN đã mang đến cho Việt Nam vốn, kinh nghiệm, công nghệ, năng lực và kỹ năng quản lý, góp phần làm tăng năng lực của khu vực kinh tế trong nước và tăng sức cạnh tranh chung của nền kinh tế.

Tuy nhiên, mức độ kết nối, lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đến khu vực kinh tế trong nước còn thấp, thu hút và chuyển giao công nghệ từ khu vực ĐTNN đến khu vực trong nước còn chưa đạt được như kỳ vọng, chủ yếu là gia công lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa trong một số ngành thấp, giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm chưa cao[4]. Trên thực tế, mối liên kết giữa kinh tế tư nhân, kinh tế ĐTNN và DNNN đã hình thành nhưng còn rất hạn chế và chưa phát huy được hết tiềm năng của từng khu vực. Hạn chế về liên kết giữa ba khu vực được thể hiện ở một số điểm như sau:

Một là, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu tập trung ở một số công đoạn trong các ngành sử dụng nhiều lao động, công nghệ trung bình như gia công (dệt may, da giày, chế biến gỗ), lắp ráp (điện tử, ô tô, xe máy, v.v) và một số ngành chế biến thực phẩm. Phần lớn nguyên, phụ liệu, phụ tùng và dịch vụ đi kèm cho sản xuất được nhập khẩu, thay vì được cung ứng bởi các doanh nghiệp trong nước. Năng lực cung ứng của các doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, chưa tham gia sâu được vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia ở Việt Nam.

Hai là, từ phía các doanh nghiệp ĐTNN, liên kết hàng dọc với các doanh nghiệp trong nước hiện vẫn còn yếu (theo thống kê của VCCI thì chỉ 37% đầu vào của ĐTNN được mua tại Việt Nam, trong đó một tỷ lệ đáng kể lại mua từ chính các doanh nghiệp ĐTNN khác). Các doanh nghiệp ĐTNN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghệ cao thường có xu hướng nhập hàng hóa đầu vào từ nước xuất xứ của mình.

Ba là, tỷ lệ nội địa hóa thấp, bình quân khoảng 20% - 25%. Việt Nam nằm ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, giá trị gia tăng thấp. Đây là bằng chứng cho thấy điều kiện tiến bộ công nghệ của doanh nghiệp trong nước chưa đủ đáp ứng đòi hỏi chuỗi sản xuất và lắp ráp công nghệ cao của các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới. 

Bốn là, xét về hình thức đầu tư, liên doanh là phương tiện hiệu quả nhất để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực trình độ cao, song tỷ trọng của hình thức này đang ngày càng giảm dần (tính lũy kế đến tháng 4/2021 tỷ lệ dự án liên doanh chỉ chiếm 13,4%, trong khi tỷ lệ này năm 2010 là 17,2%).

Nguyên nhân của tình trạng trên trước hết là do nhận thức về tầm quan trọng của việc kết nối này ở nhiều cấp độ còn hạn chế, cùng với đó là cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, thiếu tầm nhìn dài hạn,…. Bên cạnh đó, các điều kiện để kết nối khá hạn chế như trình độ công nghệ, nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu để kết nối với doanh nghiệp ĐTNN.

Ngoài ra, còn một nguyên nhân rất quan trọng nữa là do chúng ta chưa có được một ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển để đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào cho các doanh nghiệp ĐTNN. Do đó, mặc dù khu vực kinh tế có vốn ĐTNN giữ vai trò chủ chốt đối với tăng trưởng công nghiệp (trên 50% giá trị sản lượng công nghiệp) và xuất khẩu (trên 70% giá trị xuất khẩu) nhưng Việt Nam có nguy cơ bị “mắc kẹt” ở những nấc thang khá thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu, tỷ lệ nội địa hoá ở nhiều ngành công nghiệp còn thấp và chậm cải thiện. Các DN trong nước hầu hết chưa đáp ứng được tiêu chuẩn và thiếu kinh nghiệm liên kết với các DN ĐTNN nên số lượng các DN nội địa trở thành nhà cung ứng cho các DN ĐTNN còn ít, nếu có cũng rất ít DN trở thành nhà cung ứng cấp 1, thậm chí cấp 2 mà thông thường chỉ đạt được cấp 3, cấp 4.

Giải pháp để thúc đẩy sự liên kết giữa kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế nhà nước để tạo động lực mới cho tăng trưởng

Quan điểm đối với thu hút nguồn vốn ĐTNN trong giai đoạn tới theo định hướng tại văn kiện đại hội XIII của đảng và Nghị quyết 50 – NQ/TW của Bộ Chính trị là cần phải chủ động thu hút, hợp tác ĐTNN có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; có liên kết, chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trong nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia có hiệu quả vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Trong đó, để thực hiện mục tiêu thúc đẩy liên kết, kết nối giữa khu vực ĐTNN với các khu vực kinh tế trong nước thì cần thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

* Nhóm giải pháp về tăng cường năng lực cho doanh nghiệp trong nước

Thứ nhất, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân, trong đó chú trọng việc tạo lập được hệ thống chính quyền kiến tạo, phục vụ cộng đồng kinh doanh, có các chế tài nghiêm khắc và cơ chế hiệu lực, hiệu quả thực thi các chế tài nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh dựa trên các quy định của pháp luật và các quan hệ hợp đồng, dân sự theo quy định của luật pháp. Bên cạnh đó, đẩy mạnh cải cách hành chính mà trọng tâm là tạo đột phá trong cải cách thủ tục hành chính và xem xét, cắt giảm các điều kiện kinh doanh không cần thiết để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

Thứ hai, thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thông qua việc đảm bảo nguồn lực và thể chế hoàn chỉnh để triển khai các nội dung hỗ trợ đã được quy định tại Luật Hỗ trợ DNNVV; trong đó ngoài các nội dung hỗ trợ cơ bản về tín dụng, thuế, mặt bằng, công nghệ, v.v. cần tập trung ưu tiên hỗ trợ DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, hỗ trợ DNNVV khởi nghiệp sáng tạo để góp phần tạo ra một lực lượng DN sáng tạo, có thể tham gia và phát triển các chuỗi liên kết, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu, phát triển thương hiệu mạnh và nâng cao tỷ lệ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Cần tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển ở tất cả các ngành và lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Tập trung hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới, sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực thông qua việc khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân đầu tư vào các hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ; kết nối doanh nghiệp, ý tưởng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo với các nhà đầu tư, quỹ đầu tư; thúc đẩy hình thành và phát triển các khu công nghệ cao, các vườn ươm công nghệ cao và các doanh nghiệp khoa học công nghệ.

Thứ tư, nghiên cứu hình thành một tổ chức nhằm liên kết các DNTN lớn trong nước hoặc DN tư nhân trong nước với DN có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, các tập đoàn kinh tế lớn ở nước ngoài trong quan hệ hợp tác thương mại, đầu tư và kinh doanh. Trên cơ sở đó, sẽ hình thành một lực lượng DNTN dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực ưu tiên phát triển của đất nước, qua đó tăng cường tính liên kết giữa DN lớn và DNNVV Việt Nam.

Thứ năm, đẩy mạnh cải cách và cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thực chất và hiệu quả để tạo cơ hội phát triển cho kinh tế tư nhân. Theo đó, DNNN chỉ tập trung đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có tính nền tảng, mang tầm chiến lược và có khả năng dẫn dắt nền kinh tế hiện thực hóa chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; chuẩn bị thế và lực cho nấc thang giá trị mới, thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế tri thức. Nhà nước tiếp tục duy trì việc cung cấp dịch vụ công thiết yếu, phải có để đáp ứng yêu cầu của xã hội mà khu vực tư nhân không muốn hoặc chưa đủ khả năng về nguồn lực để tham gia. Thực hiện triệt để chủ trương cổ phần hóa, DNNN, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp ở các ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân tham gia có hiệu quả hơn, cạnh tranh hơn; Khuyến khích hơn nữa kinh tế tư nhân tham gia góp vốn, mua cổ phần của các DNNN khi cổ phần hóa hoặc Nhà nước thoái vốn.

Thứ sáu, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ để kích thích các DN trong nước phát triển, có đủ khả năng cung cấp nguồn nguyên, vật liệu, sản phẩm đầu vào cho các doanh nghiệp ĐTNN, qua đó làm tăng tỷ lệ nội địa hoá của các doanh nghiệp ĐTNN, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kỹ năng quản trị hiện đại cho các DN trong nước. Để thực hiện mục tiêu này, các bộ, ngành, địa phương cần thực hiện tốt các giải pháp đã được ban hành tại Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 6/8/2020 của Chính phủ về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.

* Nhóm giải pháp để thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp ĐTNN và doanh nghiệp trong nước.

Thứ nhất, có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp ĐTNN liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước. Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các dự án liên doanh thường có hiệu quả về chuyển giao công nghệ cao hơn so với các dự án 100% vốn nước ngoài. Cùng với đó, cần yêu cầu và khuyến khích các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam. Những hoạt động này sẽ tác động tích cực đến quá trình chuyển giao công nghệ. Các doanh nghiệp trong nước phải nỗ lực nâng cao năng lực về tất cả các mặt, từ công nghệ đến năng lực, trình độ của đội ngũ người lao động, quản lý. Chỉ khi đó, các doanh nghiệp ĐTNN mới tìm đến đặt hàng và hỗ trợ hoàn thiện quy trình sản xuất đáp ứng yêu cầu của họ.

Thứ hai, cần xây dựng quy hoạch tổng thể ngành, vùng, địa phương, trên cơ sở đó, rà soát lại việc sử dụng ĐTNN hiện tại để có kế hoạch điều chỉnh, cơ cấu lại hợp lý. Ưu tiên các nhà đầu tư chiến lược; tạo lập chuỗi sản xuất toàn cầu; ưu tiên doanh nghiệp công nghệ cao và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ ba, có chính sách cụ thể để hỗ trợ và tăng cường sự kết nối giữa doanh nghiệp ĐTNN với các nhà cung cấp trong nước, bao gồm việc xây dựng cơ sở dữ liệu các doanh nghiệp ĐTNN, các nhà cung cấp, các dịch vụ kết nối, các chương trình xúc tiến đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài có chính sách ưu tiên, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước. Trong thiết kế các khu công nghiệp riêng dành cho đầu tư ĐTNN, cần tính đến sự kết nối với các khu, cụm công nghiệp dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt, phải tạo điều kiện, khuyến khích các doanh nghiệp, tập đoàn thiết lập các trung tâm và mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) có sự tham gia của đội ngũ kỹ sư trong nước.



[1] Trên cơ sở tổng kết quá trình thực hiện Luật ĐTNN, các Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân lần lượt được Quốc Hội ban hành vào năm 1990.

[2] Đánh giá của Hội nghị về Thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD).

[3] Nguồn thông tin từ Tổng cục Thống kê

[4] Tỉ lệ nội địa hoá ở ngành công nghiệp điện tử mới đạt 17%, ngành ô tô mới đạt 7-10%, ngành dệt may đạt trên 50%

Theo Cục ĐTNN
Số lượt đọc: 563
Tin khác
Thông báo